Tuy là tỉnh nông nghiệp, nhưng rất ít nông sản thế mạnh của Hậu Giang được doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Trong khi đó, một vài sản phẩm chủ lực như mía, lúa được thu mua theo hợp đồng lại thường xuất hiện tình trạng “bẻ kèo” giữa nhà nông với doanh nghiệp, nhưng chưa thể xử lý.
Thời gian qua, số lượng nông sản được nông dân Hậu Giang làm ra được tiêu thụ thông qua hợp đồng chỉ ở mức khiêm tốn. Toàn tỉnh chỉ có một vài doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ với nông dân mà chủ yếu là cây mía, còn lại lúa, thủy sản, cây ăn trái hầu như không đáng kể.
 |
|
Trái cây được bán qua hệ thống thương lái không có hợp đồng mua bán. |
* Mối liên kết lỏng lẻo
Theo đánh giá của Sở NN&PTNT tỉnh, mối liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trong thời gian qua đã nâng cao vai trò và lợi ích của các bên tham gia. Nông dân có điều kiện tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, yên tâm cho đầu tư sản xuất bởi bài toán khó là đầu ra cho nông sản được giải quyết. Còn các doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, chủ động trong chế biến và tiêu thụ nông sản. Nhà nước cùng với nhà khoa học nâng cao vai trò quản lý, chuyển giao kỹ thuật đưa tiến bộ mới vào sản xuất nông nghiệp. Qua đó, trình độ canh tác của nông dân được nâng lên, hình thành cách thức sản xuất mới đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa và tạo điều kiện tăng thu nhập cho người sản xuất.
Tuy nhiên, mối liên kết “4 nhà” của tỉnh có thể nói là lỏng lẻo, các nhà thực sự chưa thể gắn kết được với nhau. Doanh nghiệp ít quan tâm đầu tư cho vùng nguyên liệu, nhất là các sản phẩm dễ thu mua trên thị trường như lúa, cây ăn trái, thủy sản… Từ đó người dân không yên tâm, tin tưởng vào đầu tư sản xuất. Vấn đề xử lý các vi phạm hợp đồng khó khăn vì chưa có cơ quan thẩm quyền nào đứng ra xử lý. Chưa kể là trong hợp đồng đã ký không có mối quan hệ ràng buộc rõ ràng dẫn đến nhiều thương vụ mua bán nông sản không thành, làm mất lòng tin lẫn nhau. Hàng năm, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ (Casuco) ước tính sản lượng mía thu mua theo hợp đồng đạt khoảng 70-80%, phần còn lại người dân tự ý phá vỡ hợp đồng để bán cho thương lái.
Thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang cho thấy, trong năm 2010, sản lượng tiêu thụ mía thông qua hợp đồng chiếm trên 72%; sản lượng tiêu thụ lúa thông qua hợp đồng chiếm tỷ lệ chưa đến 1% so với sản lượng sản xuất. Chủ tịch Liên minh HTX Hậu Giang Hà Văn Biên cho rằng: Hợp đồng bao tiêu nông sản mang tính pháp lý thấp, chưa có sự ràng buộc rõ ràng giữa người bán và người mua. Thế nhưng, vai trò liên đới giữa các nhà lại thiếu chặt chẽ và đồng bộ. Mà trước hết là vai trò xử lý khi các bên xâm phạm hợp đồng của Nhà nước rất khó thực hiện bởi không có thông tư quy định hay hướng dẫn chi tiết, cụ thể. Cho nên nhà nông cũng như doanh nghiệp dễ dàng phá vỡ hợp đồng mà rất khó quy kết trách nhiệm cho bên nào.
* Tổ chức lại sản xuất
Ngành nông nghiệp của tỉnh hiện đã quy hoạch xây dựng được các vùng nguyên liệu nông sản chủ lực như vùng lúa chất lượng cao 32.000ha, vùng mía nguyên liệu 10.300ha, vùng cây ăn trái đặc sản 2.500ha,… nhưng số lượng nông sản tại các vùng nguyên liệu này gắn kết được với nhà tiêu thụ, chế biến trong và ngoài tỉnh rất khiêm tốn. Nếu không kể là vùng mía nguyên liệu ở huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, thành phố Vị Thanh đã được các Công ty Casuco, Long Mỹ Phát ký kết hợp đồng thu mua hàng năm thì đầu ra của một số loại nông sản đặc trưng của Hậu Giang như khóm Cầu Đúc, bưởi Năm Roi Phú Hữu, lúa HG 2,... thậm chí lúa đạt tiêu chuẩn GlobalGAP mà đầu ra vẫn cứ bấp bênh vì thiếu doanh nghiệp đủ năng lực đứng ra ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
Cái khó ở đây là đa số nông sản thế mạnh tỉnh dù hình thành danh tiếng nhiều năm nhưng chưa thể khẳng định nhãn hiệu, thương hiệu trên thương trường. Trong khi khâu quảng bá sản phẩm lại hạn chế đã làm giảm tính cạnh tranh hàng hóa cùng loại ở các địa phương khác trong khu vực. Cũng không thể phủ nhận rằng sản lượng một số sản phẩm nông sản đạt chất lượng được nhà nông làm ra không thể đáp ứng theo yêu cầu hợp đồng của doanh nghiệp thu mua, chế biến vì quy mô canh tác nhỏ lẻ. Diện tích 10ha lúa đạt chuẩn GlobalGAP ở HTX nông nghiệp Phước Trung (huyện Châu Thành A), với sản lượng chưa đầy 100 tấn lúa/vụ là con số quá khiêm tốn so với nhu cầu tiêu thụ thường xuyên của doanh nghiệp để cung cấp cho người tiêu dùng trong và ngoài nước. Ông Hà Văn Biên, Chủ tịch Liên minh HTX Hậu Giang, khẳng định: Tổ chức lại sản xuất là mấu chốt của vấn đề liên kết “4 nhà”. Thông qua việc tổ chức lại sản xuất mà các nhà liên kết lại với nhau nhằm tiến hành mở rộng quy mô canh tác nông sản theo chuẩn hàng hóa nhất định là VietGAP hoặc GlobalGAP. Kết hợp với công tác quảng bá, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm. Có như thế thì sản lượng, lẫn chất lượng nông sản đủ mạnh và thường xuyên trong năm. Khi doanh nghiệp có nhu cầu thì đáp ứng kịp thời sản lượng hàng hóa lớn đủ sức thâm nhập vào thị trường khó tính chứ không còn nằm ở giới hạn chợ quê.
Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ Nguyễn Thành Long cho rằng, diện tích sản xuất của nông dân quá nhỏ nên công ty không thể đến từng hộ ký kết hợp đồng tiêu thụ mía. Vì thế, khâu tổ chức lại sản xuất đối với người trồng mía là rất cần thiết. Khi người trồng mía có tổ chức thì người đại diện của tổ chức đó dễ dàng thực hiện hợp đồng bao tiêu cùng lúc trên diện tích lớn với công ty. Muốn thực hiện được điều này, trước hết Nhà nước giữ vai trò đầu mối để tập hợp các nhà, cụ thể là nhà khoa học. Ngoài ra, tạo hành lang pháp lý cho khâu sản xuất với tiêu thụ và đảm nhận chức năng xử lý khi có tranh chấp hợp đồng xảy ra.
Bài, ảnh: NGUYỄN NGUYỄN