Liên tục những năm gần đây, số lượng lao động ở Hậu Giang đi làm việc ngoài nước thưa thớt hẳn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, công tác xúc tiến xuất khẩu lao động (XKLĐ) chưa được đẩy mạnh.
* Nhiều địa phương không đạt chỉ tiêu
Ở TP.Vị Thanh, từ năm 2007 đến năm 2010, số lượng lao động đi làm việc ngoài nước rất thấp. Liên tục 3 năm 2007, 2008, 2009, chỉ có 1 lao động đi xuất khẩu. Năm 2010 được 4 người, nhưng vẫn không đạt chỉ tiêu. Anh Trần Ngọc Phúc, cán bộ phụ trách công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm của thành phố cho rằng, trước đây lao động đi chủ yếu ở Malaysia, nhưng mấy năm nay thị trường này mang nhiều tai tiếng nên lao động không dám đi. Bên cạnh đó, điều kiện ở địa phương phát triển, lao động không thích đi xa. Ở đây có nhiều công trình, xí nghiệp họ xin vào làm nên số người đi làm việc ngoài nước thời gian qua còn ít.
 |
|
Phát vay tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh. |
Huyện Châu Thành, năm 2007, chỉ tiêu tỉnh phân bổ là 115 người, nhưng đến cuối năm số người đi được đếm trên đầu ngón tay, chỉ có 3 lao động. Những năm sau chỉ tiêu phân bổ có giảm (năm 2008 là 25 người và năm 2009, 2010 mỗi năm là 26 người), nhưng mỗi năm chỉ khoảng 5 hay 6 người đi được. Huyện Phụng Hiệp, năm 2006 có 67 người đi lao động ngoài nước, năm 2007 là 17 người, năm 2008 là 23 người, năm 2009 là 8 người, năm 2010 là 9 người. Không năm nào đạt chỉ tiêu đề ra. Huyện Long Mỹ, năm 2005 có 192 người đi XKLĐ, năm 2006 là 60 người, năm 2007 còn 10 người, năm 2008 là 14 người, năm 2009 là 12 người, năm 2010 là 6 người.
Thực chất, năm 2005, cả tỉnh đưa đi lao động ngoài nước đạt con số khá cao, 530 người, trong đó, chủ yếu là làm việc tại thị trường Malaysia. Theo thống kê của các ngành chức năng, lao động làm việc ở Malaysia chiếm khoảng 90% tổng số người đi XKLĐ. Năm 2006, vẫn đưa đi chủ yếu ở thị trường này với 312 người. Nhưng đến năm 2007, số lượng giảm đáng kể chỉ còn 59 lao động đi làm ngoài nước. Tiếp đó, năm 2008 đi 60 người, năm 2009 đi 39 người, năm 2010 đi 45 người. Khi đó, chỉ tiêu 3 năm gần đây, mỗi năm là 150 người đi XKLĐ.
* Nhiều nguyên nhân
|
Theo số liệu thống kê từ Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, hiện tại, có 672 hộ vay đi XKLĐ. Đa số là chưa hoàn vốn. Ông Trần Thành Đạt, Trưởng phòng Kế hoạch nghiệp vụ Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, cho biết: “Chúng tôi đã cho gia hạn lại 2 lần. Mỗi lần gia hạn bằng 1/2 khoảng thời gian vay. Mới đây, UBND tỉnh cũng đã có chỉ đạo chúng tôi rà soát lại tất cả các đối tượng đang vay vốn ở Ngân hàng Chính sách Xã hội đi XKLĐ. Qua đó, phân biệt rõ trường hợp nào có khả năng hoàn vốn và trường hợp nào không có khả năng và sẽ có kế hoạch thu hồi nợ”. |
Malaysia là thị trường tiềm năng, phù hợp nhất đối với lao động phổ thông của Hậu Giang. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nên nhiều lao động ở Malaysia bị về nước trước hạn, lâm vào cảnh nợ nần, gây tai tiếng không tốt đối với thị trường này. Ban Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Long Mỹ cho biết, hiện tổng số 242 người XKLĐ còn dư nợ vay, đã có đến 222 người từng đi Malaysia. Đã quá thời hạn mà họ chưa thể hoàn vốn. Vì thế, cho đến nay, dù nền kinh tế Malaysia đã phục hồi, họ lại có nhu cầu tuyển dụng, nhưng người lao động vẫn còn ngán ngại. Nhiều người tính lại và so sánh việc lao động ở trong nước và ngoài nước, chênh lệch thu nhập không nhiều, lại quá xa nhà nên cũng nhiều người không mặn mà. Nhiều thông tin về môi trường làm việc ở Malaysia khá phức tạp, nên lao động ngần ngại. Cả những người lãnh đạo cũng cho rằng, thị trường này mang lại hiệu quả không nhiều. Bà Nguyễn Thị Lý, Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Thành A, cũng đồng tình với thực tế đó.
Nguyên nhân quan trọng là tỉnh chưa có giải pháp giải quyết những vấn đề rủi ro cho lao động sau khi về nước. Chưa tạo được sự kết nối giới thiệu việc làm cho lao động về nước trước hạn vì lý do khách quan hay hết hạn. Những người đi XKLĐ ở Malaysia khi về nước, một số đi tứ tán tìm việc làm ở TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương… số khác lại ở nhà rảnh rỗi. Khi chúng tôi hỏi số lượng người làm việc ở Malaysia phải về nước năm 2007-2008, ngành chức năng cũng không nắm được cụ thể.
Một vấn đề nữa của tình trạng XKLĐ giảm sút là ở chỗ “cung cầu” lệch nhau. Thời gian qua, số lượng người đăng ký rất nhiều, nhưng hồ sơ được nhận “bay” rất hạn chế. Đa số lao động đổ xô đăng ký vào các thị trường Hàn Quốc, Nhật… những thị trường có thu nhập cao. Nhưng, những thị trường này lại đòi hỏi chất lượng nguồn lao động cũng cao. Rất ít lao động phổ thông trong tỉnh đáp ứng được yêu cầu. Đối với thị trường Hàn Quốc, tuy có nhiều ưu điểm nhưng chúng ta rất thụ động. Hồ sơ của lao động khi đã đăng ký thì được tải lên mạng cho đối tác lựa chọn, tất nhiên trong số đó, có người mới tải lên đã được chọn, cũng có người đợi dài hơi mà không có tin tức gì. Còn thị trường Nhật Bản, chi phí đi cao, trình độ cao nên ít lao động tham gia.
Thiếu chính sách tín dụng với lãi suất thấp, phát vay rộng rãi cũng là một hạn chế. Chỉ một số đối tượng ưu tiên như lao động là con em của gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo... Những đối tượng có mức sống hơn chuẩn nghèo, rất khó có điều kiện đi làm việc ngoài nước, đặc biệt là những thị trường có yêu cầu chi phí cao. Họ không đủ tài sản thế chấp ngân hàng để vay số tiền khá lớn. Nhiều người không dám mạo hiểm nên đành cam ở nhà. Đây cũng là rào cản kiềm chế số lượng người đi xuất khẩu lao động ở Hậu Giang thời gian qua. Anh Phúc, cán bộ phụ trách công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm của thành phố Vị Thanh, cho rằng: “Hạn chế đối tượng vay chính là sự kìm hãm công tác XKLĐ. Một số hộ kinh tế trung bình thì khó lòng đi xuất khẩu lao động ở thị trường Nhật Bản, Đài Loan,…”.
Một thực trạng khá phổ biến hiện nay là lao động đi làm ở nước ngoài thông qua bảo lãnh của người thân, bạn bè. Ở Long Mỹ, năm 2010, đã thống kê được số người đi làm ngoài nước theo hình thức này hơn 30 người. Ông Trịnh Văn Xe, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Long Mỹ cho biết, những trường hợp này sang nước ngoài vẫn có thu nhập và gửi tiền về gia đình. Theo khảo sát của chúng tôi thì đa số họ đi làm việc nhà; vẫn đảm bảo được đời sống của họ và gia đình.
KỲ TỚI: KHÓ CHẠM MỤC TIÊU
Bài, ảnh: HỒNG DIỄM